Quy trình kỷ thuật canh tác cây Cà Phê kinh doanh

13.1. GIỐNG CÀ PHÊ:

Trong sản xuất cà phê ở nước ta có 3 giống:

- Cà phê chè: Năng suất không cao bằng cà phê vối nhưng chất lượng lại cao hơn nhiều. Nhược điểm của cà phê chè thường bị bệnh rỉ sắt. Các giống cà phê chè trồng từ đèo Hải Vân trở ra có: Typice, Bourleon, Moka, Mondosova, Caturra, Catuai, Cadimor…

- Cà phê vối: (Robusta), được trồng chủ yếu ở nước ta,  phân bổ từ đèo Hải Vân trở vào. Cà phê vối dễ trồng hơn và năng suất cao hơn cà phê chè nhưng chất lượng không bằng cà phê chè.

- Cà phê mít: Cây to, cao chỉ còn trồng rải rác trong vườn gia đình không có diện tích trồng tập trung. Năng suất trung bình nhưng chất lượng sản phẩm thấp hơn cà phê chà và cà phê vối.

13.2. XÂY DỰNG VƯỜN ƯƠM CÂY GIỐNG:

13.2.1. Thiết kế vườn ươm:

Chọn nơi tưới tiêu thuận lợi, gần đường và dễ vận chuyển cây giống, tương đối kín gió.

Giàn cho có chiều cao cột từ 1,8 - 2,0m, luống ruộng từ 1,2 - 1,5m, dài từ 20 - 25m, theo hướng Bắc - Nam, lối đi giữa các luống rộng từ 30 - 40cm. Xung quanh vườn được che kín.

13.2.2. Chọn  giống:

Sử dụng các giống đã được công nhận:

Chọn quả đã chín hoàn toàn, hái và chế biến để lấy hạt giống trong vòng 24 giờ. Sau khi xát tươi đem ủ từ 10 - 12 giờ rồi đãi thật sạch nhớt, phơi nơi thoáng gió, nắng nhẹ với độ dày từ 2 - 3cm, khi độ ẩm trong hạt còn 20 - 30% là đủ độ ẩm để làm giống. Hạt giống không nên để quá 2 tháng, càng để lâu càng mất sức nảy mầm.

13.2.3. Xử lý hạt giống:

Hoà vôi với nước theo tỷ lệ: 0,5kg vôi bột với 20 lít nước khuấy đều, gạn lấy nước trong đun đến 600C rồi cho hạt vào ngâm trong 24 giờ. Sau đó đãi thật kỹ bằng nước sạch. ủ hạt (có 2 cách):

- Ủ hạt trong hố chìm: Hố ruộng từ 1 - 1,2m; sâu 0,6m. Đáy luống rải các lớp nguyên liệu sau:

+ Phân chuồng độn lá phân xanh còn tươi: 20 - 25cm.

+ Lớp vôi bột mỏng: 0,5kg/m2.

+ Lớp rơm rạ sạch: 10cm.

+ Tuari bao tải sạch.

+ Lớp hạt giống: Giai đoạn đầu dày 10 - 15cm, giai đoạn sau khi hạt đã nứt nanh thì san để độ dày từ 5 - 7cm.

+ Phủ bao tải sạch lên lớp hạt giống.

+ Lớp rơm, cỏ khô, đậy kín mặt luống dày 20 - 30cm và tưới đẫm nước.

- Với lượng giống ít có thể ủ trong thúng:

Cách làm: Dùng rơm, rạ, lá chuối khô lót vào đáy và thành thúng, phủ 1 lớp bao tải, đưa hạt giống vào ủ, trên mặt cũng đạy kín bằng lớp bao tải sạch. Để cho hạt nảy mầm nhanh, hàng ngày tưới nước ấm hai lần vào khoảng 6 - 7 giờ sáng và 6 - 7 giờ tối. Không nên dỡ lớp bao tải nhiều làm mất nhiệt. Sau ủ 5 ngày kiểm tra, lựa hạt đã nứt nanh (nhú mầm) đem gieo, không để mầm dài quá 3mm.

13.2.4. Quy cách túi bầu và cách làm bầu:

Túi bầu: Kích thước 17 x 25cm, 1/3 túi kể từ đáy đục 8 lỗ có đường kính 0,5cm. Đất cho vào bầu phải là lớp đất mặt tốt, tơi xốp, hàm lượng mùn cao >3% trộn với phân chuồng hoai và phân lân (tỷ lệ đất 80% phân chuồng 20% lân, 0,3 - 0,5%). Đặt bầu thẳng đứng, xít vào nhau (10 - 12 hàng /luống), quanh luống gạt đất che phủ 1/3 chiều cao của bầu cây.

13.2.5. Kỹ thuật gieo hạt:

Dùng que chọc 1 lỗ sâu khoảng 1cm ở giữa bầu, đặt úp hạt giống xuống rồi lấp đất lại. Khoảng 5% số bầu gieo hai hạt để có cây trồng dặm.

13.2.6. Chăm sóc cây con tại vườn ươm:

- Trồng dặm: Từ khi cây đội mũ đến khi cây ra đôi á thật thứ nhất, dùng cây ở túi bầu dự phòng dặm vào những bầu cây không mọc.

- Tưới nước: Cần tưới đầy đủ: cây còn nhỏ thì tưới lượng nước ít nhiều lần, cây lớn tưới lượng nước nhiều và ít lần. Cụ thể:

 

Tháng tuổi Giai đoạn sinh trưởng của cây con Số ngày/lần tưới (ngày) Lượng nước tưới (lít/m2/lần).
Tháng thứ 1 Nảy mầm, đội mũ 1 - 2 6
Tháng thứ 2 Lá sò 2 - 3 9
Tháng thứ 3 - 4 1 - 3 cặp lá 3 - 4 12- 15
Tháng thứ 5 - 6 4 cặp lá trở lên 4 - 5 18 - 20

- Bón phân: Khi cây có cặp lá thật thứ nhất bắt đầu bón thúc kết hợp với tưới nước:

+ Phân vô cơ gồm: Urê và kali với tỷ lệ 200gr urê + 100kg KCl hoà tan trong 100 lít nước, tưới đều và tăng dần lượng theo thời gian phát triển của cây. Tưới phân vào buổi sáng, khoảng 15 - 20 ngày tưới 1 lần.

+ Phân hữu cơ gồm: Phân chuồng, phân xanh, khô đầu (xác mắm nếu có. . . ). Ngâm kỹ trước khi tưới một tháng. Khi tưới cần pha loãng theo tỷ lệ 1 nước phân + 5 nước lã và tăng dần nồng độ.

Lượng phân thúc cho 1ha vườn ươm: Phân hữu cơ 20 - 30 tấn,lá cây phân xanh 10 - 20 tấn, khô dầu hoặc xám mắm 1 - 2 tấn, urê 500kg, lân 1000kg, kali 300kg.

13.2.7. Làm cỏ và phòng trừ sâu bệnh:

Chú ý  phòng bệnh lở cổ rễ, đưa cây bị bệnh ra khỏi vườn để đốt, phun cho các cây còn lại dung dịch Booc đô 0,5% hoặc Tilt nồng độ 0,1%, Validacin nồng độ 0,25% lượng thuốc và pha 1 lít /1m2.

13.2.8. Dỡ giàn điều chỉnh ánh sáng, huấn luyện cây:

Khi cây có 1 cặp lá thật giàn che để 15 - 20% ánh sáng lọt qua.

Khi cây có 3 cặp lá thật, dỡ liếp để hở khoảng cách rộng 20cm dọc theo rãnh luống, để 30 -40% ánh sáng lọt qua. Khi cây từ 3 - 4 cặp lá để hở giàn che cho 50 - 70% ánh sáng lọt qua, sau đó cứ 17 - 20 ngày một lần dỡ tiếp cho khoảng trống trên giàn rộng ra, trước khi trồng 20 ngày thì dỡ giàn che hoàn toàn để cây quen với điều kiện tự nhiên.

13.2.9. Phân loại và tuyển lựa cây để trồng mới:

Trước khi trồng cần tiến hành phân loại, chỉ trồng các cây con đủ các tiêu chuẩn sau: Tuổi cây 6 - 8 tháng, chiều cao cây 20 - 25cm, đường kính cổ rễ > 4mm, số cặp lá thật > 5, cây phát triển bình thường, không bị sâu bệnh, không bị dị hình.

13.3. KỸ THUẬT TRỒNG MỚI:

13.3.1. Chuẩn bị đất trồng cà phê:

- Đất trồng phải là đất tốt, tầng đất dày, tơi xốp, dễ thoát nước, giàu dinh dưỡng. Các loại đất Bazan, Phooc - phia, đá vôi, granit, Gley, Phiến thạch sét đều trồng được cà phê.

- Đào hố phải hoàn thành trước khi trồng mới ít nhất là 2 tháng.

- Kích thước của hố:

+ Đất tốt: 60cm x 60cm x 60cm.

+ Đất xấu: 70cm x 70cm x 70cm.

- Đối với cà phê chè (arabica) kích thước hố 40cm x 40cm x 50cm.

- Ủ trộn phân: Sau đào hố khoảng 1 tháng, lấy phân hữu cơ, lân trộn đều với đất mặt và lấp xuống hố, lấp đến đâu dùng chân nén chặt đến đấy. Hỗn hợp đất lân cao hơn miệng hố khoảng 10 - 15cm.

- Liều lượng phân cho 1 hố. Phân hữu cơ: 10kg (đất xấu cần nhiều hơn), super lân: 0,5kg.

- Nếu không đủ phân chuồng thì dùng cây phân xanh, nhưng phải ủ sớm hơn.

13.3.2. Thời vụ trồng:

Đối với Tây Nguyên, Đông Nam Bộ thích hợp nhất là trong tháng 6. ở miền Bắc trồng vào vụ Xuân và vụ Thu.

Riêng đối với cà phê (Arabica) thời vụ trồng như sau:

Nói chung bắt đầu trồng vào đầu mùa mưa, kết thúc trồng trước khi vào mùa khô 1 - 2 tháng.

+ Các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam bộ trồng từ 15/5 - 15/8.

+ Các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ trồng từ 15/8 đến hết tháng 10.

+ Các tỉnh từ đèo Hải Vân trở ra trồng từ 15/7 - hết tháng 9.

Cách trồng:

Đất trong hố trồng cà phê cần đảo trộn đều, dùng cuốc móc 1 lỗ nhỏ giữa hố. Xé túi ni lông, nhẹ nhàng đặt cây vào giữa hố, điều chỉnh cây đứng thẳng, nén chặt đất, lấp đất ngang mặt bầu.

13.3.3. Mật độ:

Với những giống cà phê cao sản trồng 2. 500 - 2. 800 cây/ha, trong đó nếu độ dốc dưới 80 trồng khoảng cách 2,5m x 1,5m mật độ 2. 667 cây/ha, dốc trên 80 trồng khoảng cách 2,5m x 1,0m. Đối với loại đất độ phì nhiêu trung bình trồng khoảng 5. 000 cây/ha, trong đó nếu độ dốc < 80 trồng khoảng cách 2m x 1m; độ dốc > 80 trồng khoảng cách 2m x 0,8m, mật độ 6. 250 cây/ha.

13.3.4. Cây che bóng và cây đai rừng: Cây che bóng chia làm 2 loại:

- Cây che bóng tạm thời như Muồng hoa vàng (Crotalaria SP), Đậu triều (Cafanus). . . gieo giữa 2 hàng cà phê vào đầu mùa mưa.

- Cây che bóng lâu dài như cây Muồng đen (Cassua Seamia) khoảng cách 20cm x 20cm; cây Keo dâu (Leuceana Lueucocephala); Muồng lá nhọn (Cassia Tora) khoảng cách 6m x 6m. Những cây này trồng bầu khi cao 40 - 60cm mới ra trồng ra lô cà phê. Cây che bóng trồng đồng thời với lúc trồng cà phê.

Tuỳ loại cây mà khoảng cách trồng có khác nhau. Cần tỉa cây che bóng thường xuyên để cho vườn được thoáng.

Cây đai rừng: ở những nơi có gió mạnh hoặc hay có bão cần trồng đai rừng chắn gió:

+ Chiều rộng đai rừng là 6 - 10m.

+ Khoảng cách giữa các đai rừng chính là 200m

+ Giữa 2 đai rừng chính cần trồng một đai rừng phụ (một hàng cây).

13.3.5. Bón thúc:

- Năm mới trồng: Dùng 0,5kg super lân hoặc lân nung chảy trộn với phân hữu cơ ủ trong hố trước trồng khoảng 1 tháng. Khi cây đã bén rễ bón thêm mỗi gốc 25 - 30gr urê.

Định lượng phân hoá học bón cho cà phê hàng năm theo bảng dưới đây:

 

Tuổi cà phê Lượng phân (gam/cây)
Urê Lân nung chảy Kali clorua
Năm thứ nhất 80 133 39
Năm thứ hai 107 222 47
Năm thứ ba 178 250 118
Thời kỳ kinh doanh 178 333 196

- Phân lân bón cùng 1 lúc với phân hữu cơ.

- Phân đạm và phân kali có thể bón 3 lần/năm theo tỷ  lệ dưới đây:

Loại phân Tỷ lệ bón ở các tháng (% của tổng số)
Tháng 2 - 3 Tháng 8 - 9 Tháng 10 - 11
Đạm 35 40 25
Kali 30 40 30
Lân 100 - -

- Các tỉnh phía Bắc có thể áp dụng bón 4 lần vào các tháng sau đây:

+ Tháng 2 - 3, bón 20% đạm + 100% lân + 20% kali.

+ Tháng 4 - 5, bón 30% đạm + 30% kali.

+ Tháng 6 - 7, bón 30% đạm + 30% kali.

+ Tháng 9 - 10, bón 20% đạm + 20% kali.

- Trước khi bón cần làm cỏ xung quanh gốc cà phê.

- Lần bón phân cuối cùng trong năm kết hợp với tủ gốc giữ ẩm.

13.3.6. Tưới nước và chống rét cho cây trồng mới:

Sau trồng phải chú ý tủ gốc giữ ẩm và che túp chống rét cho cây (che túp kín về hướng Đông - Bắc và để hở khoảng 1/3 về hướng Tây). Khi cây thiếu nước, cần tưới nước.

- Ở Tây Nguyên vào mùa khô tưới 3 - 4 đợt. Mỗi đợt cách nhau 20 - 25 ngày. Lượng nước tưới tuỳ thuộc vào tuổi cây. Năm trồng mới và 2 năm tiếp theo tưới 200 - 300m3/ha/1lần tưới.

- Các năm kinh doanh cần 400 - 500m3/ha/1lần tưới: Riêng đợt tưới cho cây cà phê kinh doanh vào thời điểm mầm hoa đã phát triển đầy đủ cần tưới 600m3/ha/đợt đầu.

- Ở các tỉnh từ đèo Hải Vân trở ra nhìn chung vấn đề tưới không đặt ra định kỳ nhưng khi gặp khô hạn kéo dài cà phê cần được tưới.

13.3.7. Tạo hình:

  1. a) Tạo hình cơ bản:

Đối với cà phê trồng mật độ dầy > 4. 500 cây/ha chỉ để 1 thân cây. Mật độ < 4. 000 cây/ha có thể để 2 thân/gốc. Việc tạo hình cơ bản để có cành cấp I tạo ra bộ khung của cây cà phê, có 2 cách:

- Không bấm ngọn để cây cà phê phát triển tự do theo chiều cao.

- Có bấm ngọn: Tuỳ theo giống, trình độ thâm canh, ngắt bỏ ngọn cà phê ở độ cao 1,2m; 1,4m hoặc 1,8m.

  1. b) Tạo hình nuôi quả:

Trên cành cấp I cần tạo thêm các cành thứ cấp để các cành này mang quả trong thời kỳ dinh doanh.

- Chú ý cắt bỏ những cành tăm, cành vòi voi, cành xà gần mặt đất, cành yếu ớt có sâu bệnh.

13.3.8. Phòng trừ sâu bệnh:

  1. a) Sâu đục thân mình trắng (Xylotrechus Quadripes):

Sâu đục thân còn gọi là sâu Bore gây hại cà phê từ năm thứ 3 trở đi. Sâu trưởng thành là 1 loài xén tóc đẻ trứng vào các kẽ nứt của vỏ cây, sâu non đục qua phần vỏ vào phần gỗ làm chết cây cà phê.

- Phòng trừ: Thu gom và đốt các cây, cành bị chết vì sâu hại.

- Giai đoạn sâu đẻ trứng và sâu non phun 1 trong các thuốc sau đây:

+ Dragon nồng độ pha 10ml/1 bình 8 lít nước.

+ Supracid 40 EC nồng độ 0,25% + dầu Diezel nồng độ 0,5%.

+ Sago Super, nồng độ pha 25ml/1 bình 8 lít nước.

+ Diazinol 50 EC nồng độ 0,25% + dầu Diezel nồng độ 0,5%.

+ Pyrinex, Lancer nồng độ 0,1 – 0,2%

- Dùng hỗn hợp sau đây quét lên phần hoá gỗ của cây và cành lớn.

+ Supracid hay Sumithion:     1 - 2 phần.

+ Phân trâu bò mới:                5 phần.

+ Đất sét:                                            10 phần.

+ Nước lã:                                           15 phần.

Thường phòng trừ vào các đợt sâu đẻ trứng rộ các tháng 4, 5, 10, 11.

  1. b) Sâu tiện vỏ (Dihammus Cervinus Battes):

Sâu trưởng thành là 1 loại xén tóc để trứng sát mặt đất. Sâu tiện vỏ cà phê thời kỳ kiến thiết cơ bản làm cây héo vàng rồi chết.

Phòng trừ sâu tiện vỏ như đối với sâu đục thân. Phun thuốc hoặc quét hỗn hợp vào tháng 4, 5 háng năm.

  1. c) Rệp sáp (Pseudococeus Spp):

Rệp sáp gây hại cuống quả, chùm quả, chùm hoa, phần non của cây và rễ gây thối quả, cháy lá và chết cây.

Phòng trừ: Trên lá, quả phun Supracid 40 EC nồng độ 0,15% hoặc Dimecron 100 DD nồng độ 0, 15 - 0,20%, Diazinol 50 EC nồng độ 0,15% tưới vào gốc bằng 1 trong các loại thuốc trên + 1% dầu hoả, lượng dùng 1 lít dung dịch/gốc.

  1. d) Nhện đỏ (Red spider mite):

Xuất hiện và gây hại vào mùa khô, nhện đỏ chích hút dịch cây từ lá làm cho mặt lá gồ ghề, các lá non và lá bánh tẻ sau khi bị hại có màu nâu như khi bị cháy nắng. Lá bị hại rất dễ rụng.

Phòng trừ: Trồng cây che bóng, bón phân hữu cơ. Dùng 1 trong các loại thuốc sau để phun: Fodidol E 605 nồng độ 0,1 - 0,2%, Sago Super 20EC nồng độ 25ml/1 bình 8 lít nước, Dragon 585EC nồng độ 8 – 10ml/1 bình 8 lít nước, Diazinol dạng sữa nồng độ 0,1 - 0,2%.

  1. e) Bệnh gỉ sắt (Humilei a vastatrix):

Nấm ký sinh tạo thành các vết bệnh hình tròn với 1 lớp bột phấn mầu vàng nhạt sau đó là mầu da cam ở dưới mặt lá.

Phòng trừ: Sử dụng giống kháng bệnh, tăng cường bón phân hữu cơ, vệ sinh đồng ruộng tiêu huỷ tàn dư thực vật nhiễm bệnh. Trường hợp cây cà phê bị bệnh qúa nặng có thể ghép nối ngọn bằng giống kháng được bệnh gỉ sắt.

Phun 1 trong các loại thuốc sau đây:  Anvil 5 SC nồng độ 0,2%, Sumieight 12,5 WP nồng độ 0,05%, Baylenton nồng độ 0,1%, dung dịch Booc- đô nồng độ 1%.

  1. f) Bệnh khô cành quả (Die Back):

Bệnh làm khô cành quả, khô từng mảng trên lá. Bệnh có quan hệ với cây thiếu dinh dưỡng hoặc bị nấm Collectotrichum Cofeanum gây nên.

Phòng trừ:  Trồng cây che bóng hợp lý, tăng cường dinh dưỡng cho cây. Tiêu huỷ những cành bị bệnh đã khô. Dùng 1 trong các loại thuốc: Booc - đô nồng độ 1%, Benlate nồng độ 0,2%, Deronal nồng độ 0,2%, Carbenzim nồng độ 0,2%, Tilt nồng độ 0,1% phun 2 - 3 lần, cách nhau 15 ngày.

  1. g) Bệnh nấm hồng.

Bệnh do nấm Corticium Salmonicolor gây hại trên cành. Bệnh thường xuất hiện các tháng mưa, ẩm. Vết bệnh ban đầu là những chấm trắng nằm ở dưới của cành, sau hồng dần và lan rộng gây nên chết cành.

Phòng trừ: Phát hiện kịp thời để cắt bỏ cành bị bệnh đem tiêu huỷ. Dùng thuốc Validacin nồng độ 2%, Anvil nồng độ 0, 2%, phun 2 - 5 lần cách nhau 15 ngày, phun tập trung vào quả và cành bị bệnh.

13.4. CHẾ BIẾN VÀ BẢO QUẢN CÀ PHÊ:

13.4.1. Chế biến khô:

Đem phơi nguyên cả quả sau thu hoạch. Nhược điểm: quả lâu khô, dễ bị mốc, chất lượng hương vị của cà phê tách bị giảm. Cần hạn chế phương pháp này.

13.4.2. Chế biến ướt:

Phương pháp này tạo ra sản phẩm cà phê có chất lượng cao hơn hẳn so với chế biến khô. Quả chín thu hái ngày nào đem xát tươi ngay ngày đó bằng máy thủ công. Sau đó dùng nước đãi hết vỏ quả, gạn hết nước rồi để ủ lên men. Chú ý: Không dùng đồ chứa bằng kim loại. Kiểm tra khe hạt hoàn toàn sạch nhớt là quá trình lên men đã xong, vớt ra, rửa sạch, đem phơi.

13.4.3. Phơi:

Phơi cà phê quả mới thu hái (chế biến khô) hoặc quả cà phê thóc ướt (chế biến ướt) trên sân xi măng, sân gạch hoặc trên một tấm liếp, không phơi cà phê trên nền đất. Lớp cà phê phơi cần rải mỏng cho chóng khô, đảo thường xuyên ít nhất một gờ một lần. Khi cắn hạt, nếu không vỡ, coi như cà phê đã khô hoàn toàn và có thể đưa vào cất giữ.

13.4.4. Bảo quản:

Cà phê phơi (hoặc sấy) khô đựng trong bao tải sạch, thùng gỗ, bồ hoặc trong kho thoáng khí, không để bị ẩm. Tuỳ theo yêu cầu của người mua cà phê, có thể tiêu thụ sản phẩm ở dạng quả khô, cà phê thóc, hoặc xay xát thành cà phê nhân để bán.

Comments

comments